Banner trang chủ
Chương trình OVOP: là chương trình phát triển vùng của Nhật Bản. Chương trình này khởi xướng tại quận Oita vào năm 1979 khi mà Thống đốc Morihiko Hiramatsu đề  xướng chương trình này. Cộng đồng lựa chọn sản xuất các loại hàng hóa có giá trị gia tăng cao. Một làng sản xuất một sản phẩm cạnh tranh như một doanh nghiệp để đạt được doanh thu nhằm cải thiện mức sống cho các cư dân của làng đó.

Có 3 nguyên tắc trong Phong trào OVOP đó là: (1) Tạo ra các loại sản phẩm/dịch vụ có thể chấp nhận được trên quy mô toàn cầu dựa trên cơ sở nguồn lực của địa phương, (2) Tự chủ và sáng tạo, (3) Phát triển nguồn nhân lực của địa phương. Đặc điểm chung đối với cả 3 nguyên tắc này đó là việc nhấn mạnh vào quyền sở hữu địa phương.

Theo Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thì, sau sự thành công của OVOP, có hơn 40 quốc gia cũng đang học tập và thực hiện mô hình OVOP bao gồm Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh, Trung Quốc, Đông Timor, Ấn Độ, Indonesia, Kyrgizstan, Malaysia, Mông Cổ, Myanmar, Pakistan, Philippines, Hàn Quốc, Sri Lanka, Đài Loan, Việt Nam, Ethopia, Ghana, Kenya, Malawi, Mozambique, Nigeria, Senegal, Tunisia, Uganda, Paraguay, Chile, Pháp và Hoa Kỳ…

Từ hiệu quả của phong trào OVOP, nhiều mô hình OVOP đã được xây dựng và phát triển tại Việt Nam nhằm tăng trưởng ngành nghề nông thôn, thu hút lao động làm việc tại các làng nghề... Trên thực tế, theo báo cáo của Cục Chế biến, thương mại nông lâm, thủy sản và Nghề muối, với hơn 2.700 làng nghề trên cả nước, năm 2009, giá trị xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề đạt 900 triệu USD. Một số phong trào OVOP tuy được xây dựng đơn lẻ nhưng vẫn khuyến khích được nỗ lực của người dân trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống và nhất là phù hợp với chủ trương xây dựng nông thôn mới hiện nay. Tuy nhiên, kết quả phát triển làng nghề chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của yêu cầu phát triển.

Ba vùng phát triển làng nghề với số lượng lớn là đồng bằng sông Hồng (43%), Tây Bắc (12,2%) và đồng bằng sông Cửu Long (10,5%). Từ hai năm nay, tại 4 tỉnh Lai Châu, Ðiện Biên, Sơn La và Hòa Bình thuộc khu vực Tây Bắc, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã hỗ trợ với dự án nâng cao năng lực xúc tiến ngành nghề thủ công phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam.

Một vài mô hình phát triển sản phẩm làng nghề đang được các chuyên gia của Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ Việt Nam nghiên cứu, triển khai tại Việt Nam:

- Các sản phẩm ruột mây, mây song: Xã Yên Tập, Huyện Cẩm Khê, Phú Thọ;

- Các sản phẩm trang sức từ sừng, trai và gỗ:Xã Hòa Bình, Huyện Thường Tín, Hà Nội;

- Các sản phẩm từ giấy Dó và giấy thủ công: Xã Hợp Hòa, Huyện Lương Sơn, Hòa Bình. 

Hà Nội hiện có 1350  làng nghề và làng có nghê chiếm gần 244 làng nghề truyền thống. Theo đánh giá của JICA Nhật Bản, thành phố Hả Nội có 47 làng nghề trên tổng số 52 nghề của tòan quốc với hàng chục nhóm nghề đang có chiều hướng phát triển.

Năm 2011, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đạt 8.232,84 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của toàn thành phố. Hà Nội có gần 100 làng nghề đạt doanh thu 10-20 tỷ đồng/năm, 70 làng nghề đạt 20-50 tỷ đồng/năm…đặc biệt một số làng nghề đạt doanh số cao như làng gốm sứ Bát tràng đạt gần 300 tỷ đồng/năm; làng nghề mộc Vạn Điểm (huyện Thường Tín) đạt trên 100 tỷ đồng…Một số làng nghề đã bước đầu kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản phẩm của làng nghề đã tinh xảo, hiện đại hơn, năng suất lao động được nâng cao.

Bên cạnh những điểm mạnh mang tính truyền thống của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Hà Nội, thì những hạn chế về mẫu mã, tính đồng đều của chất lượng sản phẩm, các hoạt động xúc tiến thương mại… đang là rào cản hạn chế khả năng xuất khẩu cho sản phẩm cũng như mức tiêu thụ nội địa.

Được sự chỉ đạo của UBND Thành phố Hà Nội, Sở Công Thương giao Trung tâm XTTM Hà Nội phối hợp với các Hiệp hội, đơn vị đang triển khai Chương trình Xúc tiến thương mại “Mỗi làng một sản phẩm” để phục vụ mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các làng nghề Hà Nội (gọi tắt là OVOP Hà Nội). Chương trình XTTM OVOP giai đoạn 2012-2015 đã đề ra mục tiêu nhằm giải quyết phần lớn những vấn đề đang tồn tại trong từng giai đoạn cụ thể. Trong đó có một số mục tiêu chính: tăng kim ngạch xuất khẩu cho sản phẩm của Hà Nội; Đẩy mạnh công tác XTTM là một giải pháp của  nhà nước giúp các làng nghề tìm đầu ra tiêu thụ sản phẩm; Hỗ trợ các công tác phát triển sản phẩm thủ công tiêu biểu, có thế mạnh kinh tế cao như gốm sứ, đồ gỗ, mây tre đan, sơn mài...

Đối tượng của chương trình XTTM OVOP 2012-2015 được chia làm 4 nhóm:

(1) Nhóm 1 là nhóm mặt hàng/làng nghề tiêu biểu có giá trị sản xuất hàng năm cao đang xuất khẩu/có tiềm năng xuất khẩu cao;

(2) Nhóm 2 là các làng nghề sản xuất các mặt hàng có thể được thiết kế lại phù hợp với nhu cầu tiêu dùng hiện đại của thị trường thế giới và nội địa để nâng cao giá trị sản xuất

(3) Nhóm 3: các nhóm mặt hàng tiềm năng phát triển giá trị sản xuất thông qua phá triển du lịch – đây là các dòng sản phẩm/làng nghề sản xuất các mặt hàng giá trị văn hóa cao;

(4) Nhóm 4: Nhóm các sản phẩm mới mà thị trường có nhu cầu cao và cần thiết phải nhân cấy tại các làng nghề.

Chương trình XTTM OVOP 2012-2015 sẽ chia ra các giai đoạn theo từng năm tương ứng với các hoạt động và lộ trình cụ thể như khảo sát tiềm năng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ; xác định tiêu chí xếp hạng sản phẩm OVOP; Tổ chức đào tạo, tập huấn doanh nghiẹp’; Thi thiết kế sản phẩm thủ công mỹ nghệ OVOP Hà Nội; tổ chức hội thảo, hộ chợ quốc tế,  quảng bá OVOP Hà Nội kết nối mạng lưới OVOP toàn cầu…

Mục tiêu và hành động cụ thể của chương trình trong thời gian tới cụ thể như sau :

-  Lựa chọn được các sản phẩm OVOP Hà Nội đạt tới chất lượng cao có thể đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. (Năm 2012: Số sản phẩm đạt chất lượng cao có khả năng xuất khẩu là 50 bộ sản phẩm ( 100 sản phẩm). Năm 2015 là 500 sản phẩm )

- Xây dựng thương hiệu OVOP Hà Nội cho các sản phẩm tham gia chương trình OVOP Hà Nội, tạo ra 1 thương hiệu có uy tín không chỉ trong nước và thế giới

- Hình thành hệ thống tiêu chí chấm điểm, phân loại xếp sao các sản phẩm nhằm dễ dàng hơn trong việc hỗ trợ và phát triển các sản phẩm. Đây là 1 trong các điểm cốt lõi của chương trình nhằm đem đến sự tiêu chuẩn hóa về chất lượng cho các sản phẩm làng nghề nói chung và thủ công mỹ nghệ nói riêng chứ không chỉ dừng lại ở mặt văn hóa và tư duy cộng đồng.

- Mang đến cho Thành phố Hà Nội 1 đội ngũ Doanh Nghiệp nòng cốt cho chương trình OVOP Hà Nội. ( Năm 2012: Số lượng doanh nghiệp nòng cốt là 20 DN, tiến tới giai đoạn sau là 100 DN ) Các DN này sẽ thực hiện vai trò nòng cốt mở rộng thị trường, là đầu mối thu gom sản phẩm xuất khẩu các sản phẩm OVOP Hà Nội. Các doanh nghiệp này sẽ được hưởng những cơ chế hỗ trợ của Nhà nước về XTTM.

- Giúp đỡ DN xây dựng 1 đội ngũ chuyên gia thiết kế chuyên nghiệp các sản phẩm OVOP bước đầu sẽ là những buổi tập huấn, những hướng dẫn về thiết kế từ những chuyên gia thiết kế giàu kinh nghiệm nước ngoài cho các nhóm sản phẩm riêng biệt vơi mục tiêu nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao có mẫu mã đẹp đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

- Trong những năm tới sẽ tiến hành tổ chức các hội thảo, hội nghị nhằm đánh giá, nâng cao chất lượng các sản phẩm và tạo cơ hội giao thương cho các doanh nghiệp đồng thời tổ chức, tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành OVOP trong và ngoài nước với mục tiêu mở rộng thị trường cho các sản phẩm OVOP Hà Nội tại thị trường trong nước và nước ngoài (hàng năm)

- Với mục tiêu lâu dài Tp Hà Nội cũng lên kế hoạch dài hạn cho 1 trung tâm đào tạo, thiết kế và phát triển sản phẩm của Thành phố với những tiện ích, hỗ trợ cho các chuyên gia, nhà thiết kế có 1 môi trường thuận lợi nhất tạo cảm hứng sáng tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng cao, mẫu mã đẹp

- Bên cạnh đó việc phát triển các sản phẩm OVOP kết hợp với du lịch với châm ngôn « mỗi sản phẩm một câu chuyện » sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, tạo thêm việc làm và thu nhập. Hơn nữa phát triển làng nghề còn giúp cho ngành du lịch quảng bá được hình ảnh của đất nước ra nước ngoài thông qua các sản phẩm của các làng nghề truyền thống.

Ngoài những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và nét văn hóa dân tộc đặc sắc, làng nghề truyền thống cũng có sức hút đặc biệt đối với du khách bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa. Đến với làng nghề du khách không chỉ được ngắm cảnh quan mà còn được tham quan nơi sản xuất, trực tiếp được tiếp xúc với những người thợ thủ công, thậm chí còn được trực tiếp tham gia làm ra sản phẩm.

Từ những bài học về sự thành công của hơn 40 nước tham gia phong trào OVOP của các nước xuất khẩu TCMN trên thế giới và khu vực Châu Á nói riêng,  Sở Công Thương đã xây dựng “Chương trình xúc tiến thương mại “ Mỗi làng một sản phẩm” để đẩy mạnh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa  giai đoạn 2012- 2015”. Đây là chương trình XTTM có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các làng nghề sản xuất và tiêu thụ, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Thủ đô Hà Nội và nhân rộng ra trên toàn quốc.

Newsletter
  • Công ty TNHH gốm sứ Quang Vinh
  • Công ty TNHH mây tre Hà Linh
  • Tập đoàn Hiệp Hưng (Bellizeno)
  • công ty liên doanh tiger lily việt nam
  • công ty cổ phần Linh Vân
  • Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch Hà Nội
  • công ty cổ phần Nghiên cứu và phát triển sáng chế Việt Nam (VIC)
  • QR htpc
  • Lễ Hội ánh sáng làng nghề Hà Nội 2016
Video
Load...